Lò hơi đốt trấu: Tiết kiệm tiền tỷ cho doanh nghiệp

Thay than đá, dầu FO bằng trấu để làm nhiên liệu cho lò hơi, nghiên cứu của TS Nguyễn Thanh Quang, Đại học Bách khoa TP.HCM đã mang lại tiền tỷ cho nhiều doanh nghiệp sản xuất.

Trước đây, đa phần các doanh nghiệp sản xuất sử dụng than đá, dầu FO làm nhiên liệu cho lò đốt. Việc làm này vừa tốn kém do giá nhiên liệu đắt đỏ, lại vừa gây ô nhiễm môi trường. Thấy vậy, TS Nguyễn Thanh Quang, Bộ môn Công nghệ và thiết bị, Khoa Kỹ thuật hóa học, Trường ĐH Bách khoa TP.HCM đã bỏ ra nhiều năm, chưa kể bỏ cả tiền túi để nghiên cứu công nghệ “lò hơi đốt đa nhiên liệu kiểu tầng sôi”. Đặc điểm của lò hơi này là dùng được nhiều loại nhiên liệu có sẵn, rẻ tiền như trấu, mùn cưa, vỏ cà phê, rơm rạ, bã mía, than bùn, rác thải…

Không dễ chào công nghệ mới

TS Quang nhớ lại, năm 2009, khi hệ thống lò hơi nói trên được chế tạo thành công, ông đã đến nhiều doanh nghiệp để thuyết phục họ ứng dụng lò hơi đốt đa nhiên liệu vào sản xuất. Đáp lại lời mời này là những cái lắc đầu dù các đơn vị này đang phải dùng lò đốt bằng dầu FO, hoặc than đá với chi phí cao.
Không chỉ quan tâm kinh phí đầu tư cho lò đốt mới, đa số các doanh nghiệp đều tỏ ý nghi ngờ và hỏi TS Quang: “Anh đã áp dụng loại lò mới này cho những đơn vị nào rồi?”. “Đúng là hỏi “khó”. Mình mới nghiên cứu xong và đang thuyết phục doanh nghiệp sử dụng, nhưng họ lại hỏi mình câu đó”, TS Quang kể.

Phải tìm đến doanh nghiệp thứ sáu ở tỉnh Bến Tre và sau nhiều lần thuyết phục, họ mới chấp nhận sử dụng công nghệ lò hơi đốt đa nhiên liệu kiểu tầng sôi. Nhưng để họ đồng ý, bản thân ông phải chấp nhận giá chịu lỗ so với tiền sản xuất.

Theo TS Quang,  trước khi có sản phẩm lò hơi đốt đa nhiên liệu kiểu tầng sôi do ông chế tạo và đưa vào sản xuất, chưa có cơ sở nào trong nước nghiên cứu triển khai chế tạo lò hơi tầng sôi.

Phế phẩm thành nhiên liệu

Ông Huỳnh Khắc Nhu, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Trà Bắc, tỉnh Trà Vinh – một đơn vị chuyên chế biến các sản phẩm từ dừa cho biết: năm 2009, Trà Bắc thử nghiệm đầu tư một hệ thống lò hơi đốt bằng trấu kiểu tầng sôi bốn tấn/giờ. Sau một năm sử dụng và thấy có hiệu quả kinh tế, Trà Bắc đã đầu tư thêm hai hệ thống có công suất bốn tấn và bảy tấn. Các hệ thống cung cấp hơi đốt bằng dầu FO, than đá sử dụng từ nhiều năm trước đó được công ty cho “nghỉ hưu” sớm.

Về tính hiệu quả của lò hơi đốt bằng trấu, ông Nhu nói: so với than đá, đốt bằng trấu giảm được 60% chi phí về nhiên liệu. Với một lò bảy tấn /giờ, chi phí nhiêu liệu với trấu chỉ hết 13 triệu đồng/ngày, trong khi với than đá phải mất khoảng 37 triệu đồng/ngày. Còn nếu so với dầu FO thì còn lợi hơn nhiều. Theo ông Nhu, nếu giá trấu có tăng lên gấp đôi thì lò đốt bằng trấu vẫn lợi hơn. Đốt bằng trấu, việc xử lý tro cũng dễ dàng hơn và còn bán được tro cho sản xuất nông nghiệp. Mặc khác, đốt bằng trấu cũng giảm được nguy cơ về ô nhiễm môi trường do khói thải ít so với đốt bằng than đá và dầu FO.

“Đến nay, đã có trên 70 hệ thống lò hơi đốt đa nhiên liệu kiểu tầng sôi được bán cho các doanh nghiệp. Có 20 hệ thống được bán trọn gói và chuyển giao cho doanh nghiệp vận hành. 50 hệ thống khác được lắp đặt tại doanh nghiệp và bán hơi cho doanh nghiệp sử dụng”, bà Hồ Ngọc Bích Hà, Giám đốc điều hành Công ty Đại Phát, nói. Đại Phát là công ty được TS Quang hợp tác để chuyển giao hệ thống cung cấp hơi cho các doanh nghiệp.

Qua chứng minh bằng thực tiễn, lò hơi đốt do TS Nguyễn Thanh Quang chế tạo đã đạt giải nhất Giải thưởng Sáng tạo khoa học-kỹ thuật VIFOTEC năm 2011.
  Theo: Baodatviet.

Các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong lò hơi

Theo thống kê, hiện nay, trên cả nước đang sử dụng hàng nghìn lò hơi các loại. Trong đó, phần lớn các lò hơi có hiệu suất sử dụng năng lượng thấp, làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường và kém hiệu quả về mặt kinh tế. Tình hình này đặt ra yêu cầu cần thiết phải có các giải pháp giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu suất, tiết kiệm năng lượng trong sử dụng và vận hành các lò hơi.

 

Ở Việt Nam, các loại lò hơi chủ yếu được dùng trong lĩnh vực công nghiệp. Các lò hơi này có công suất từ 1 tấn/giờ – 300 tấn/giờ. Phần lớn các lò hơi đang sử dụng đều có hiệu suất năng lượng thấp nên lượng khí độc hại do đốt nhiên liệu phát thải vào môi trường rất cao.

Bên cạnh đó, công nghệ lò hơi lạc hậu nên mức tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cao. Vì vậy, việc nâng cao hiệu suất, tiết kiệm năng lượng đối với lò hơi đang là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi giá nhiên liệu có xu hướng ngày càng tăng.

Có nhiều biện pháp nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng trong hệ thống lò hơi liên quan đến quá trình đốt, truyền nhiệt, hao hụt năng lượng, giảm mức tiêu thụ điện của thiết bị phụ trợ. Bằng việc kiểm tra một số yếu tố sau có thể giúp doanh nghiệp đánh giá được thiết bị lò hơi của đơn vị mình có được vận hành với hiệu suất tối đa hay không.

 

Vận hành hệ số không khí thừa ở nhiệt độ thích hợp

Theo phương pháp chuẩn đối sánh, đối với lò dầu thì tỉ lệ bay hơi tốt nhất là 14% đối với khí CO2 và 1,5% đối với O2. Để điều chỉnh nồng độ O2 hoặc CO2, doanh nghiệp có thể dùng các biện pháp như: Dùng vòi đốt có tỷ lệ Nox/O2 thấp, cải tiến lá chắn tiết lưu và cách điều chỉnh, chống không khí rò lọt vào lò qua các cửa, nút ở thành lò hơi; sửa chữa, cải tiến hoặc thay thế vòi đốt, hoặc cải tiến bộ lá chắn và phương pháp điều khiển.

 

Gia nhiệt nước cấp sử dụng bộ tiết kiệm nhiệt

Thông thường, khí nóng thoát ra khỏi lò hơi 3 lớp hiện đại có nhiệt độ từ 200 đến 3000C. Do vậy, có thể thu hồi được từ các dòng khí nóng này. Nhiệt độ của khí nóng thoát ra từ lò hơi thường được duy trì ở mức tối thiểu là 2000C, do đó ôxít lưu huỳnh trong khí nóng không ngưng tụ được và gây ăn mòn bề mặt truyền nhiệt.

Khi sử dụng các nhiên liệu sạch như: khí gas tự nhiên, khí hóa lỏng hoặc dầu khí, cần phải tính đến hiệu quả kinh tế của việc thu hồi nhiệt vì nhiệt độ của khí xả nóng có thể dưới 2000C.

Khả năng tiết kiệm năng lượng phục thuộc vào loại lò hơi và loại nhiên liệu được sử dụng. Với loại lò hơi điển hình kiểu cũ, nhiệt độ khí xả nóng đạt 2600C, ta có thể sử dụng bộ tiết kiệm để giảm nhiệt độ xuống còn 2000C, giúp tăng nhiệt độ nước cấp thêm 150C.

Lò hơi 3 lớp hiện đại đốt khí gas tự nhiên có nhiệt độ khí xả nóng ở mức 1400C, sử dụng bộ tiết kiệm ngưng tụ giúp giảm nhiệt độ khi xả xuống 650C và tăng hiệu suất nhiệt lên 5%.

 

Gia nhiệt không khí đốt

Gia nhiệt khí đốt là biện pháp thay thế việc làm nóng nước cấp. Để tăng hiệu suất nhiệt lên 1%, nhiệt độ không khí đốt phải tăng thêm 200C. Hầu hết bộ đốt dầu và khí gas trong các trạm lò hơi không được thiết kế để sử dụng ở mức nhiệt độ gia nhiệt không khí cao.

Các bộ đốt hiện đại có thể chịu được sự gia nhiệt không khí đốt cao hơn nhiều, do vậy, có thể coi những thiết bị này giống như bộ trao đổi nhiệt cho dòng khí xả nóng và là biện pháp thay thế bộ tiết kiện năng lượng hoặc là nhiệt độ khoảng không hay nhiệt độ của nước cấp giúp nó hoạt động.

 

Điều tiết xả hơi tự động

Xả hơi liên tục mà không kiểm soát sẽ rất lãng phí. Điều tiết xả hơi tự động được lắp đặt giúp phát hiện và phản ứng với suất dẫn và độ pH của nước lò hơi. Cứ 10% xả hơi cho 15kg/cm2trong lò hơi dẫn đến mức hao hụt hiệu suất tới 3%.

Giảm đóng cặn và tạo bồ hóng của các lò hơi đốt than và dầu, bồ hóng tích tụ trong ống giống như chất cách nhiệt cho quá trình truyền nhiệt. Những cặn lắng như vậy cần phải loại bỏ thường xuyên. Nhiệt độ ống khói tăng lên cho thấy lượng bồ hóng tích tụ quá nhiều. Hiện tượng nhiệt độ ống khói tăng cũng xảy ra do sự đóng cặn ở bình chứa nước.

Nhiệt độ khí xả cao ở mức dư lượng không khí bình thường cho thấy khả năng truyền nhiệt kém. Điều này sẽ dẫn tới việc tích tụ dần cặn lắng ở phía buồng khí hay khoang chứa nước. Khi có cặn lắng ở khoang chứa nước, cần xem xét lại quy trình xử lý nước và vệ sinh ống để loại bỏ cặn lắng. Ước tính khi nhiệt độ trong ống xả khói tăng lên 22% thì tương ứng hiệu suất sẽ giảm đi 1%.

Nên kiểm tra và lấy số liệu nhiệt độ ống xả khói thường xuyên để đánh giá các chỉ số của cặn lắng và bồ hóng. Khi nhiệt độ khí nóng tăng thêm khoảng 200C so với nhiệt độ thông thường ở các lò hơi mới vệ sinh, cần phải nhanh chóng loại bỏ cặn lắng và bồ hóng. Do vậy, nên lắp đặt một nhiệt kế kiểu mặt đồng hồ ở chân đế của ống xả khói để kiểm tra nhiệt độ khí xả nóng.

Mỗi lớp bồ hóng có độ dày 1mm sẽ làm tăng nhiệt độ của ống xả khói lên 550C. Ước tính, một lớp bồ hóng dày 3mm, mức tiêu thụ nhiên liệu sẽ tăng lên khoảng 2,5%. Việc vệ sinh định kỳ bề mặt lò đốt, thùng chứa cửa lò hơi, bộ tiết kiệm năng lượng và bộ sưởi không khí sẽ giúp loại bỏ các cặn lắng bám lâu ngày.

 

Giảm áp suất hơi nước của lò hơi

Đây là biện pháp hiệu quả giúp giảm lượng nhiên liệu tiêu thụ ở mức cho phép từ 1 đến 2%. Giảm áp suất hơi nước đồng nghĩa với việc thu được nhiệt độ hơi nước bão hòa thấp và không cần thu hồi nhiệt thải từ ống xả khói, đồng thời còn giúp giảm nhiệt độ của khí nóng.

Hơi nước được sinh ra dưới áp suất (thường là áp suất cao nhất) theo yêu cầu nhiệt độ cho từng quá trình cụ thể. Trong một số trường hợp, quá tình sinh hơi không phải lúc nào cũng luôn xảy ra, và có những thời điểm áp suất lò hơi có thể giảm xuống được. Người phụ tránh điều tiết năng lượng cần xem xét kỹ lưỡng việc giảm áp suất trước khi vận hành lò hơi. Các ảnh hưởng bất lợi như: tăng lượng nước chảy từ lò hơi do giảm áp suất có thể đi ngược lại với mục đích tiết kiệm năng lượng, áp suất nên giảm theo từng đợt và không nên vượt quá 20%.

 

Điều tiết thay đổi tốc độ của quạt, thiết bị quạt gió và bơm

Việc điều tiết thay đổi tốc độ của quạt, thiết bị quạt gió và bơm có ý nghĩa quan trọng giúp tiết kiệm năng lượng. Thông thường, việc kiểm soát không khí đốt được hỗ trợ bởi các van tiết lưu lắp tại các quạt gió cảm ứng và cưỡng bức. Tuy van tiết lưu là thiết bị điều chỉnh đơn giản, nhưng lại thiếu chính xác, khiến khả năng điều chỉnh tại vị trí đầu và cuối của hệ thống vận hành kém. Nhìn chung, nếu đặc điểm nạp tải của lò hơi biến đổi, có thể thay thế van tiết lưu bằng một bộ điều tiết thay đổi tốc độ biến tần.

 

Thay thế lò hơi

Việc thay thế lò hơi được tiến hành, nếu lò hơi đang sử dụng là cũ và kém hiệu quả, hoặc lò hơi không có khả năng đốt những nhiên liệu thay thế có chi phí thấp hơn;hoặc lò to quá cỡ hay nhỏ hơn so với yêu cầu.có thể thay thế phụ kiện lò hơi mới

Bên cạnh việc xem xét các yếu tố về tính sẵn có của nhiên liệu và kế hoạch phát triển của mình, doanh nghiệp cũng nên cân nhắc đến yếu tố tài chính và nhân lực trước khi quyết định thay thế, vì các lò hơi thường có tuổi thọ trên 25 năm.

Trên đây là một số biện phát cơ bản để kiểm tra hiệu quả hoạt động của lò hơi tại các doanh nghiệp, xưởng sản xuất, giúp tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Nhận dạng và các biện pháp chống tổn thất trong lò hơi nhà máy nhiệt điện

Hiện nay ở Việt Nam đang triển khai xây dựng hàng loạt nhà máy và trung tâm điện lực đốt than nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Những nhà máy mới, đang và sẽ được xây dựng này được thiết kế và xây dựng với tiêu chí hiện đại, hiệu suất cao và đảm bảo môi trường, phù hợp với điều kiện của Việt Nam . Tuy nhiên, bên cạnh những nhà máy này vẫn còn những nhà máy nhiệt điện cũ, đã được xây dựng và vận hành từ lâu với công nghệ lạc hậu và suy giảm hiệu suất. Việc nhận dạng và khắc phục các tổn thất năng lượng trong các nhà máy này, cụ thể là khâu lò hơi đốt than sẽ có một ý nghĩa nhất định trong lĩnh vực sản xuất điện năng.

Nhận dạng các tổn thất trong nhà máy nhiệt điện

 

 Chuyên gia Trung Quốc trao đổi với kỹ sư Việt Nam về lắp đặt thiết bị lũ hơi số 1 Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh I. 

 

Nhà máy điện là cơ sở sản xuất có công nghệ rất phức tạp, bao gồm nhiều hệ thống với rất nhiều thiết bị công nghệ khác nhau nhưng lại liên hệ mật thiết với nhau. Trong mỗi hệ thống, mỗi thiết bị, mức độ tổn thất năng lượng cũng khác nhau. Vì vậy trước hết cần chú trọng việc vận hành và quản lý những hệ thống, thiết bị có tỉ lệ tổn thất năng lượng cao, đồng thời cần tập trung nghiên cứu tìm các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong các hệ thống và thiết bị này.

Thước đo tính kinh tế của nhà máy nhiệt điện là hiệu suất nhà máy, được thể hiện dưới dạng tỷ số của điện năng sản xuất ra và nhiệt lượng nhiên liệu cung cấp cho nhà máy, hay nói cách khác, hiệu suất là một chỉ số gián tiếp thể hiện các tổn thất của nhà máy.

Các tổn thất của lò hơi

Hiện tại ở Việt Nam đang tồn tại hai cách tính hiệu suất lò hơi theo phương pháp ngược phổ biến là tính hiệu suất lò hơi theo nhiệt trị cao (HHV) và theo nhiệt trị thấp (LHV) của than. Với các nhà máy cũ, hiệu suất lò hơi được tính theo phương pháp nhiệt trị thấp.

Với phương pháp tính này, các tổn thất nhiệt của lò hơi bao gồm:

– Tổn thất nhiệt theo khói thải: q2;

– Tổn thất cháy không hết về hoá học và cơ học: q3 và q4;

– Tổn thất toả nhiệt ra môi trường qua bảo ôn và xỉ: q5  và q6.

Các lò hơi hiện đại có tổn thất tính theo tỷ lệ phần trăm của nhiệt cấp cho lò là khoảng 8-10%, tức là hiệu suất của các lò hơi hiện đại khoảng 90-92%. Các lò hơi tại các nhà máy nhiệt điện cũ của chúng ta có hiệu suất thiết kế từ 86,06% đến 90,65%, nhưng sau một thời gian dài vận hành, hiện nay hiệu suất của các lò hơi đã suy giảm nhiều. Hiện nay hiệu suất thực tế của các lò hơi chỉ đạt khoảng 74 – 84% (xem bảng 1). Việc này trước hết do ảnh hưởng của chế độ bảo dưỡng, sửa chữa và vận hành thiết bị. Vấn đề đặt ra là phải có biện pháp giảm các tổn thất này. Vậy các tổn thất chính của lò hơi hiện nay là gì?

Bảng 1. Các tổn thất của lò hơi

TT

Các chỉ tiêu

Phả lại 1

Uông Bí

Ninh Bình

Thiết kế

Thực tế

Thiết kế

Thực tế

Thiết kế

Thực tế

1

Hiệu suất lò

86,02

83,49

90,65

73,30

90,10

77,15

2

Tổn thất nhiệt q2

5,28

6,38

4,70

5,67

5,10

6,04

3

Tổn thất nhiệt q3+q4

8,03

9,51

4,00

20,35

4,36

16,18

4

Tổn thất nhiệt q5

0,59

0,59

0,65

0,67

0,40

0,59

5

Tổn thất nhiệt q6

0,04

0,04

–

–

0,04

0,04

 

 

Nguồn số liệu lấy từ:

– Quy trình vận hành lò hơi của các NMĐ Phả Lại 1, Uông Bí, Ninh Bình.

– Trung tâm Thí nghiệm Điện.

Phân tích bảng 1 có thể nhận thấy rằng hai tổn thất chính của lò hơi là tổn thất nhiệt theo khói thải (q2) và tổn thất nhiệt do các bon cháy không hết (q4) và đây cũng là hai đại lượng làm suy giảm nhiều nhất hiệu suất lò hơi so với giá trị thiết kế.

Tổn thất nhiệt theo khói thải q2 trước hết phụ thuộc vào hệ số không khí thừa và nhiệt độ khói thải.

Hệ số không khí thừa tại đuôi lò của các lò hơi hiện nay khoảng 1,4 – 1,45, lớn hơn nhiều hệ số không khí thiết kế (1,25 – 1,30), làm tổn thất q2 tăng. Nguyên nhân chính làm hệ số không khí thừa tăng là do chế độ làm việc của hệ thống chế biến than thay đổi nhiều, do lọt gió lạnh vào lò và vào hệ thống chế biến than. Hiện nay tại các nhà máy nhiệt điện đốt than, chất lượng than được cung cấp xấu hơn: nhiệt trị giảm, độ ẩm, độ tro tăng, v.v., vì vậy mà hệ thống chế biến than phải làm việc quá tải, lượng không khí cần để sấy, vận tải than tăng nhiều, đồng thời hệ thống chế biến than bị lọt gió quá nhiều làm cho lượng không khí cấp vào lò tăng hơn thiết kế. Hơn thế nữa, lượng gió tăng thêm này là gió lạnh và chủ yếu được đưa vào lò dưới dạng gió cấp 3 (có khi tới 30% tổng lượng gió), làm ảnh hưởng tới chế độ cháy, chế độ khí động của buồng lửa, làm cho tổn thất do cháy không hết q4 (sẽ nói ở dưới đây) tăng lên. Cũng cần nói thêm rằng, khi lượng gió (và lượng khói thải) tăng lên thì các quạt gió, quạt khói phải làm việc nhiều hơn, đôi khi quá tải, làm điện tự dùng, cũng có nghĩa là tổn thất của nhà lò tăng. Cũng cần phải nói thêm nữa là khi lượng gió tăng thì các bộ sấy không khí không thể đảm bảo được nhiệt độ gió nóng (thấp hơn nhiệt độ thiết kế đến 50oC), điều này lại làm cho hệ thống chế biến than làm việc kém và lò hơi cháy không tốt. Như vậy, chỉ xét riêng chế độ gió thì hệ thống chế biến than và lò hơi có quan hệ nhân quả rất phức tạp, một khâu trong dây chuyền này suy giảm sẽ làm suy giảm đặc tính của khâu thứ hai và nó lại tiếp tục làm suy giảm thêm đặc tính của khâu thứ nhất…

Buồng lửa, đuôi lò không kín, xì hở bộ sấy không khí, lọt gió lạnh khi ra xỉ (ở một số lò hơi) cũng làm cho hệ số không khí thừa tăng.

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng tới tổn thất q2, nhưng ở mức độ thấp hơn, là nhiệt độ khói thải. Theo các số liệu hiệu chỉnh lò hơi của Trung tâm Thí nghiệm Điện thì nhiệt độ khói thải ở trước bộ lọc bụi của hầu hết các lò hơi là khoảng 135-145oC, trong khi nhiệt độ cho phép chỉ khoảng 125-130oC. Nguyên nhân của nhiệt độ khói thoát tăng là do tổ chức chế độ cháy trong buồng không hợp lý, các đai cháy có diện tích không phù hợp, các bề mặt trao đổi nhiệt trong buồng lửa bị tro xỉ bám bên ngoài và bị cáu cặn trong đường ống làm cho khả năng truyền nhiệt giảm. Ngoài ra, khi độ thô, độ ẩm than bột lớn, chân không buồng lửa cao sẽ làm cho tâm cháy chuyển dịch lên phía trên, dẫn đến nhiệt độ khói thoát cũng tăng lên… Dễ dàng nhận thấy rằng nhiệt độ khói thoát tăng cao kết hợp với lưu lượng khói thải cũng tăng cao sẽ làm giảm đáng kể hiệu suất lò.

Ngoài ra, vận hành lò với nhiệt độ nước cấp thấp (khi các bình gia nhiệt không làm việc hoặc làm việc kém hiệu quả) cũng dẫn đến làm tăng tổn thất q2, do phải cung cấp lượng than-gió nhiều hơn (so với chế độ định mức) để đảm bảo thông số hơi (lưu lượng và áp suất), tuy nhiên chính vì vậy mà làm tăng nhiệt độ hơi quá nhiệt và việc phun giảm ôn để duy trì nhiệt độ hơi yêu cầu lại gây thêm một tổn thất nhiệt nữa.

Tổn thất do cháy không hết về cơ học và hoá học q4, q3 của các nhà máy nhiệt điện hiện nay là quá lớn, đây là yếu tố làm hiệu suất lò hơi suy giảm nhiều nhất, đặc biệt là q4. Thực tế khách quan cho thấy than antraxit Việt Nam là rất khó cháy, do hàm lượng chất bốc thấp, than khó bén cháy và bén cháy ở nhiệt độ cao. Tình hình chất lượng than suy giảm (chất bốc, hàm lượng tro) càng làm cho chế độ cháy trong buồng lửa của lò hơi xấu đi. Mặt khác, tổn thất nhiệt q3, q4 còn phụ thuộc nhiều vào hệ số không khí thừa và kết cấu các vòi đốt than bột. Hệ số không khí thừa quá nhỏ hoặc quá lớn hoặc vận hành ở tải thấp (nhiệt độ buồng lửa thấp) làm cho các tổn thất q3, q4 tăng lên. Thiết kế vòi đốt than, đai đốt không hợp lý, các khiếm khuyết vòi đốt như: mòn, thủng cũng làm cho q3, q4 tăng. Tổn thất q4 còn phụ thuộc vào độ mịn, độ ẩm than bột, chất lượng than, nhiệt độ gió nóng, tỷ lệ-tốc độ gió… Tổn thất q4 cao tức là hàm lượng các bon còn lại trong tro lớn (20 – 30%), gây khó khăn trong việc sử dụng tro xỉ làm phụ gia xi măng và các vật liệu xây dựng, làm cho lượng tro xỉ thải ra nhiều hơn thiết kế dẫn tới việc hệ thống thải tro xỉ phải làm việc căng thẳng hơn, tình hình các bãi xỉ cũng trở nên khó khăn hơn.

Tổn thất nhiệt q5 chủ yếu do các lớp bảo ôn bị hư hỏng, hoặc chất lượng, độ dày lớp bảo ôn không đạt yêu cầu. Bảng 1 cũng cho thấy rằng các dạng tổn thất khác của lò hơi: tổn thất do toả nhiệt ra môi trường bên ngoài (q5), tổn thất do nhiệt của xỉ (q6), là không lớn và các lò hơi của chúng ta hiện nay nói chung là đảm bảo được các giá trị thiết kế của các tổn thất này.

Như vậy có thể kết luận rằng, đối với các lò hơi, trước hết cần tập trung nghiên cứu các biện pháp nhằm giảm các tổn thất q2 và q4.

Trên cơ sở đánh giá hiện trạng công nghệ và thiết bị của các nhà máy nhiệt điện cũ, đồng thời qua phân tích các tổn thất năng lượng trong các hệ thống và thiết bị của dây chuyền sản xuất điện, có thể đề xuất các giải pháp tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả cho các nhà máy điện theo hai hướng chính:

– Các giải pháp kỹ thuật: nâng cấp, cải tạo, sửa chữa.

– Các giải pháp quản lý: sản xuất, sửa chữa, tổ chức.

Các giải pháp kỹ thuật

 

Nhà máy nhiệt điện Uông Bí

1. Nâng cao hiệu suất lò hơi và thiết bị phụ

Như đã trình bày ở trên, các tổn thất nhiệt của lò hơi bao gồm:

– Tổn thất nhiệt theo khói thải (q2);

– Tổn thất cháy không hết về hoá học và cơ học (q3 và q4);

– Tổn thất toả nhiệt ra môi trường (q5 và q6).

Để nâng cao hiệu suất lò hơi, cần giảm thiểu các tổn thất đó.

thấta. Giảm tổn thất nhiệt theo khói thải (q2)

Để giảm tổn thất nhiệt q2 cần phải:

–      Cung cấp không khí cho lò một cách hợp lý trong từng giai đoạn đốt cháy nhiên liệu (đảm bảo hệ số không khí thừa tối ưu) và giảm thiểu không khí lạnh lọt vào buồng lửa, đường khói và hệ thống chế biến than.

– Cải tạo hệ thống chế biến than để đảm bảo độ mịn và độ ẩm than bột.

– Đảm bảo chân không buồng đốt trong vận hành.

– Lắp đặt các thổi bụi buồng lửa và đường khói, đảm bảo chế độ thổi bụi hợp lý.

– Đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng nước cấp, nước lò để giảm thiểu đóng cáu cặn trong đường ống.

– Đảm bảo nhiệt độ nước cấp lò hơi.

Hiện nay tổn thất q2 ở các lò hơi đang vận hành dao động từ 5,7 – 7%. Nếu giữ được mức q2 <5% thì sẽ tăng được hiệu suất lò lên được khoảng 1 – 2%. Điều này rất có ý nghĩa, mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể.

thấtb. Giảm các tổn thất nhiệt do cháy không hết về hoá học và cơ học (q3 và q4)

Để giảm được tổn thất nhiệt q3, q4 cần phải:

– Đảm bảo hệ số không khí thừa tối ưu (tỉ lệ giữa nhiên liệu và không khí nóng, việc này có thể thực hiện tốt với lò đốt trực tiếp hoặc với hệ thống vận tải than bột có tỉ lệ đậm đặc cao).

– Khắc phục khiếm khuyết và cải tạo vòi đốt có hiệu suất cao. Việc lắp đặt các vòi đốt kiểu UD tại các lò hơi của Nhà máy điện Ninh Bình (Hình 1) đã cải thiện đáng kể các đặc tính của lò hơi (hiệu suất tăng 1 – 2%, không đóng xỉ, kéo dài chu kỳ vận hành lò, giảm tỷ lệ các bon còn lại trong tro…). Cần áp dụng vòi đốt kiểu UD cho các lò còn lại của các nhà máy nhiệt điện đốt than khác.

– Cải tạo hệ thống chế biến than, đảm bảo chất lượng bi nghiền để đảm bảo độ mịn than bột.

– Đảm bảo chất lượng than cung cấp (độ ẩm, độ tro, chất bốc, nhiệt trị, cỡ hạt).

– Đảm bảo tổ chức chế độ cháy hợp lý (nhiệt độ gió nóng, tỷ lệ – tốc độ gió).

Hiện nay các lò hơi hiện đại đốt than antraxit thường được thiết kế với hàm lượng các bon còn lại trong tro từ 7 – 8%, trong khi các lò hơi hiện tại đang vận hành của ta là 15 – 20% (Phả Lại, Uông Bí), thậm chí 30% (Ninh Bình) (q4 = 10 – 17%). Nếu ta duy trì được giá trị hàm lượng các bon còn lại trong tro nhỏ hơn 10% sẽ giảm được q4 từ 1 – 3%, mang lại lợi ích không nhỏ.

thấtc. Giảm tổn thất do toả nhiệt ra môi trường (q5 và q6)

 

Hình 1. Vòi đốt than UD

Tổn thất nhiệt q5 phụ thuộc vào tình trạng bảo ôn bề mặt thiết bị và các đường ống. Nhiệt độ bề mặt bên ngoài lớp bảo ôn không được vượt quá 50oC và càng thấp thì càng tốt. Nếu nhiệt độ bề mặt ngoài lớp bảo ôn tăng lên 10 oC thì tổn thất nhiệt sẽ tăng lên khoảng 0,25%. Để giảm tổn thất này, phải bọc bảo ôn tất cả các thiết bị và đường ống chịu nhiệt, đảm bảo đúng các yêu cầu kỹ thuật về vật liệu và độ dày. Hiện nay tổn thất q5 của các nhà máy trên vào khoảng 0,6 – 0,7%, nếu thực hiện tốt chế độ bảo ôn có thể giảm được q5 từ 0,1 – 0,2%.

Để giảm tổn thất q6 phải có phương án cải tạo lại thuyền xỉ, vít xỉ. Theo các tài liệu của Công ty Magadi, Italia, công nghệ thải xỉ khô tiên tiến của Magadi có thể cải thiện được khoảng 1% hiệu suất lò hơi do than trong xỉ cháy kiệt hơn và nhiệt của xỉ được dùng để sấy không khí cấp cho lò hơi.

thấtd. Giảm tổn thất hơi, nước

Các tổn thất này bao gồm: xả định kỳ, xả liên tục lò hơi, xả đọng các thiết bị và đường ống, xả sự cố bao hơi, xả tràn khử khí, xả cạn lò, khử khí, bình ngưng, bình gia nhiệt để sửa chữa, xì hở van và đường ống, v.v.

Để hạn chế các tổn thất này cần phải:

– Đảm bảo chất lượng nước bổ sung tốt, không xì hở ống đồng bình ngưng để giảm lượng nước xả bẩn lò hơi.

– Thực hiện chế độ xả định kỳ và xả liên tục một cách hợp lý.

– Khắc phục xì hở hệ thống đường ống và các van.

– Nghiên cứu, áp dụng giải pháp thu hồi và tái sử dụng nguồn nước xả từ các thiết bị (các bình, bể…).

Hiện nay các nhà máy có chỉ số tổn thất này tương đối lớn, từ 3 – 5% thậm chí đến 8%. Nếu thực hiện tốt các biện pháp trên, có thể giảm được tổn thất này từ 1 – 2%.

thấte. Giảm tổn thất hơi tự dùng

Đối với các lò hơi cũ, lượng hơi tự dùng theo thiết kế khoảng 1 – 2% sản lượng lò hơi, tuy nhiên hiện tại lượng hơi này lên tới 2 – 3%.

Để giảm tổn thất hơi tự dùng cần phải:

– Thực hiện chế độ vận hành hợp lý: sử dụng hơi tự dùng từ nguồn tối ưu.

– Xác định chế độ thổi bụi hợp lý sao cho việc thổi bụi mang lại hiệu quả cao nhất: chu kỳ thổi bụi tối ưu, thời gian thổi ngắn, đảm bảo thông số hơi thổi bụi: áp suất, nhiệt độ, giảm thiểu lưu lượng hơi thổi.

– Giảm thiểu số lần khởi động lò ngoài dự kiến.

– Khắc phục xì hở hệ thống chân không bình ngưng (do hệ thống chân không xì hở nên các ejectơ hút khí bình ngưng luôn luôn bị quá tải, tăng lượng tiêu hao hơi).

– Khắc phục xì hở hệ thống van, ống… hệ thống hơi tự dùng.

Nếu thực hiện tốt các biện pháp trên có thể giảm được giá trị này từ 0,5 – 1%.

 

Lò hơi đốt than

2. Thực hiện chế độ pha trộn nhiên liệu tối ưu để giảm chi phí nhiên liệu

Than cung cấp cho nhà máy từ các nguồn khác nhau và có chất lượng khác nhau, giá bán tại nhà máy cũng khác nhau. Với mỗi thiết bị lò hơi cần đảm bảo loại than có chất lượng ổn định (các thành phần hoá dao động không lớn), đáp ứng yêu cầu vận hành kinh tế (hiệu suất cao), đáp ứng yêu cầu về phát thải. Điều này dẫn tới yêu cầu giải bài toán tối ưu để tìm ra tỷ lệ pha trộn than với chi phí nhiên liệu tối thiểu và đáp ứng các chỉ tiêu về nhiên liệu cho lò hơi (S, A, O, N, W, V, Q, HGI, T1, T2, T3). Để giải bài toán này cần phải lập phương trình phi tuyến với các giới hạn như khả năng cung cấp của từng nguồn nhiên liệu, các giới hạn về phát thải (SO2, NOx), các giới hạn về thành phần nhiên liệu, nhiệt độ T1, T2, T3, HGI…

 3. Nghiên cứu áp dụng chế độ đốt hỗ hợp than/dầu

Khi phải đốt than chất bốc thấp (khó bén cháy) như các than antraxit của Việt Nam, thành phần các bon chưa cháy hết trong tro rất cao (15 – 20%). Nguyên nhân chủ yếu là thời gian để bén cháy của hạt than trong buồng lửa kéo dài do chất bốc thấp. Có thể giải quyết vấn đề chất bốc thấp bằng cách bổ sung một phần dầu kèm để đảm bảo cháy kiệt tối đa các hạt than trong buồng lửa. Đốt kèm dầu làm tăng chi phí nhiên liệu phụ (FO) nhưng lại giảm chi phí nhiên liệu chính (than). Do vậy cần thí nghiệm tìm chế độ hỗn hợp tối ưu (hay tỉ lệ kèm dầu) sao cho chi phí nhiên liệu tổng (than & dầu) thấp hơn khi chỉ đốt riêng than (giảm thiểu tổn thất cháy chưa hết về cơ học của than).

T.S Hoàng Tiến Dũng

Chào tất cả mọi người!

Cảm ơn vì đã sử dụng WordPress. Đây là bài viết đầu tiên của bạn. Sửa hoặc xóa nó, và bắt đầu bài viết của bạn nhé!